1-
Địa Danh
Thật sự thì không ai
nhớ được là danh xưng Bãi-Xan đã có từ bao giờ và do ai đặt ra. Hỏi
thăm những người có tuổi trong làng cũng chẳng ai trả lời rỏ ràng
được. Theo hồ sơ của Cha Antôn Án ghi lại còn lưu giử trong nhà thờ
họ đạo thì thời Cha Điền trông coi họ đạo (1825-1840), đã có tên
Bãi-Xan rồi.
Theo tự điển Việt ngử
thì BÃI có nghiã là bãi cát, bãi sông, bãi biển, là vùng đất giồng,
đất bãi. Nghĩa nầy đúng vì theo địa hình thì
Bãi-Xan đúng là vùng
cạnh bờ sông Cổ Chiên. Bề rộng con sông nầy ngang vùng
Bãi-Xan là
khoảng 3 cây số. Đứng bên nầy nhìn chỉ thấy mờ mờ bờ sông bên kia.
Đó không phải là một con sông nhỏ. Mé Bãi-Xan có nhiều bãi cát hiện
lên mỗi khi nước ròng. Nhứt là bến sông ngay phía Vàm Giồng (đầu
Rạch Giồng Tượng), toàn là cát chứ không phải bùn sình như nhiều bãi
sông khác. Hơn nữa, đất Bãi-Xan cũng là đất giồng được bồi lên qua
nhiều thời đại mà thành.
Giồng là một dãy đất
phẳng, có cát rất nhuyển. Dưới lớp cát là lớp đất-thịt, dẽ cứng.
Phải đào sâu mới có nước và thường là nước-mội, rất trong vì đã qua
lớp cát lọc kỹ rồi. Giếng đất giồng phải đào thoai-thoải đễ tránh
cát lở-chùi (1). Bãi-Xan có những con giồng
như Giồng Lớn, Giồng Nhánh và Giồng Giữa (xem bản đồ). Đất trong
những giồng nầy toàn là cát mịn. Mùa hè nóng phỏng chân người đi bộ.
Tôi còn nhớ, mỗi khi phải đi vô Giồng Lớn, ngang khu đất thánh, là
phải nín thở chạy một hơi cho qua khỏi khu nầy vì đất thánh không có
cây để che bóng mát. Tới cuối đất thánh mới dám nghỉ hơi vì tại đây
có 2 cây còng già nhiều bóng mát. Hai cây còng nầy cũng là nơi mà
hồi còn đi học, chúng tôi hay trèo lên tìm bắt những con bù rầy (bọ
rầy), những con bửa củi.. Đất giồng nhiều cát nên rất hợp cho việc
trồng khoai và mì. Khoai giồng khác với khoai đất thịt, củ nhỏ và da
có màu đỏ hồng. Gia đình Ông Tư Sinh, (còn gọi là "ông chúa mẹ", vì
ông luôn mở đầu câu chuyện bằng câu “Chúa Mẹ ơi”) là bỏ đở đầu xức
tráng của tôi, sinh sống ở cuối Giồng Lớn, có trồng nhiều khoai
giồng nên thỉnh thoảng chúng tôi có những rổ khoai ngon từ gia đình
nầy. Sau, Ông dời gia đình về gần khu cua Út Lô hiện giờ và ông chết
tại đây vì bị “trúng gió” sau khi đi ruộng về.
Vậy chữ BÃI có nghiã là
bãi cát, bãi sông.
Còn chữ XAN thì sao?
Theo tự điển thì XAN
không có nghĩa gì hết. Nhưng nếu thêm chữ “G” thành XANG thì có
nghĩa là xôn-xang (2), xao-động như trong câu:
gió thổi làm xôn-xang mặt nước. Chử “xang” có liên hệ tới
sóng nước, sông hồ. Đất Bãi-Xan từ Vàm Láng Thé lên đến Đức Mỹ đều
là bờ sông, luôn luôn có sóng vỗ, nhìn xa xa thấy mặt nước luôn nhấp
nhô.
Chữ Bãi-Xan cũng đã gây
nhiều rắt rối cho những người có học trong làng như: thầy Hai Nhàn,
thầy Ba Mãng, Út Thiều. Theo như lời kể của Ông Trần Công Bỉnh
(3) thì có một lần, những ngưòi nầy đã đến xin cha Sở Bellocq
được sửa chữ XAN thành XANG, có “G”, cho đúng nghĩa và cũng để phân
biệt với Bãi Xàu (Sóc Trăng) hầu tránh sự nhầm lẩn cho bưu điện khi
chuyển thư. Tranh luận một lúc, cha Bellocq nổi cáu, người la:
“Nếu mấy ông sợ nhà giây thép (Bưu Điện) lộn thì đề là
Bãi-Xan – TRÀ
VINH. Bãi-Xan không thay đổi được vì là do tổ tiên các ông đặt ra
chứ không phải tôi”.
Tên gọi Bãi-Xan có từ
bao giờ và do ai đặt thì không ai biết vì không tìm được tài liệu
nào ghi lại. Tuy nhiên, đất Bãi-Xan được gia đình ông Mậu đến khai
phá vào những năm cuối thế kỷ 18 (khoảng năm 1780) thì có lẽ chữ
Bãi-Xan là do ông Mậu đặt ra (?). Với ý nghĩa là “một vùng đất có những
bãi cát, bãi sông với mặt nước sóng gợn nhấp nhô”. Nhưng người xưa
không biết được xôn-xang là phải có “g” nên viết đại thành XAN,
không “g” là vậy (??).
* Theo tôi,
những người có tuổi trong làng thời bấy giờ (thập niên 1960) giải
nghĩa chữ Xan như trên là không đúng. Theo Hán ngữ thì âm "bai" có
nghĩa là bãi cát, bờ sông. Âm "xan" có nghiã là phố quận, khu dân cư,
thôn ấp, xóm nhà. Tổ tiên chúng ta là những người thông thạo chữ Nho,
khi đến đây khai hoang lập nghiệp, thì đặt tên vùng đất mới nầy là
Bãi-Xan là dựa theo phát âm chữ Nho "bai xan" nghĩa là "xóm nhà (thôn
ấp) bên bờ sông". Xin đọc bài:
"Bàn Về Một Cái Tên". (9)
Bãi-Xan thật là một xứ
đạo có tiếng trên đất liền cũng như trên mặt sông Cổ Chiên. Trong
thời bắt đạo của các vua Minh Mạng, Thiệu Tri, Tự Đức,
Bãi-Xan đã
từng là nơi ẩn trú của các linh mục thừa sai ngoại quốc cũng như các
cha Annam. Cha Thánh Philipphê Minh cũng đã ẩn náo và giúp việc ở
Bãi-Xan gần 3 năm (1850-1852) trước khi người bị bắt ở Mặc Bắc và bị
xử trảm ở Đình Khao, Vĩnh Long vào năm 1853. Cố Chính Hòa (Cha
Borelle), người được Đức Cha Mỹ (Mgr Colombert) giao cho coi các địa
phận Đàng Trong cũng đã sống một thời gian ở
Bãi-Xan và chết chôn
tại đây. Trên mặt sông thì khoảng ngang
Bãi-Xan có ba lượn sóng đặc
biệt, gọi là sóng thần. Bất cứ tàu ghe nào cũng vậy, khi vừa qua
cửa Thom là phải đổi tài công để qua sông cái
Bãi-Xan. Phải hết sức
cẩn thận như qua biển cả vậy.
Giồng Tượng
Bãi-Xan còn được gọi là
Giồng Tượng. Tại sao vậy?
Vài trăm năm trước, đất
Bãi-Xan là vùng đất hoang vu. Gần sông thì rừng rậm dầy đặt. Xa vô
trong là khu rừng chồi, đầy lau sậy, bần, tràm. Có rất nhiều thú
rừng sống ở đây như: voi, cọp, beo, heo rừng, nai, mễnh, v.v.. Có
những bầy voi đông đảo từ khu rừng chồi phiá tây đi lần ra sông Cái
để uống nước rồi về năm nghỉ ở khu phía sau nhà Bà Hảng, bây giờ là
trường Mẫu Giáo, gọi là khu Bàu Tượng. Voi có thói quen đi theo một
con đường nhất định nên lâu ngày đường voi đi thành con đường mòn và
rồi dần dần thành một con rạch nhỏ. Sau người ta gọi con rạch này là
Rạch Giồng Tượng. Rạch Giồng Tượng hiện tại dài khoảng 2 cây số, bắt
đầu từ bờ sông Cái, gọi là Vàm Giồng, chạy vô cạnh sau nhà ông Út
Hạnh, rồi ngang sau khu “mã vôi”, vòng qua sau chợ
Bãi-Xan rồi kết
cùng ở bên nầy đường cạnh hông nhà cha sở.
Một điểm đặc biệt của
con rạch Giồng Tượng là khi nước ròng thì chảy lên, theo hướng
Tây-Đông, và khi nước lớn thì chảy xuống. Trái ngược với định luật
tự nhiên là nước ròng chảy xuống và nước lớn chảy lên.
(xem họa đồ)
Vì con rạch Giồng Tuợng
nầy mà Bãi-Xan đôi khi còn được gọi Giồng Tượng là vậy.
2- Nguồn Gốc Bãi-Xan
Nói đến Bãi-Xan
(4), ta nghĩ ngay đến một xóm đạo nhỏ nằm dọc
theo bờ phía tây sông Cổ Chiên thuộc làng Đại Phước. Bắt đầu từ Vàm
Láng Thé chạy dọc bờ sông lên đến làng Mỹ Hiệp (bây giờ là làng Đức
Mỹ), khoảng 10 cây số. Bề ngang khoảng 4 cây số, từ bờ sông chạy vô
hết con giồng nhỏ gọi là Giòng Tượng. Một con đường nhỏ chạy từ vàm
Láng Thé đến đầu Vàm Giồng, từ đây, con đường trở nên rộng rải hơn,
chạy ngay đến trước nhà thờ họ đạo thì chia làm ba, một dẩn vô Giồng
Lớn, một dẩn vô Giồng Nhánh và một dẩn vô Giồng Giữa. Đường chính là
con đường đi từ trước nhà thờ lên đến cua 11 thuộc quốc lộ 60 (đưòng
nầy thưòng được gọi là bờ "lộ sau", vì đã có 1 con đường khác gọi là
bờ "lộ trước", gần mé sông, cũng chạy từ Đức Mỹ xuống tới bến Vàm
Giồng. Con đường nầy đã bị sạt lở không còn sử dụng được). Từ đây,
một con đường nhỏ chạy thẳng ra mé sông Cái chia ranh giữa hai làng:
Đại Phước và Đức Mỹ
Bãi-Xan là nơi có nhiều
sóng gió, nhất là vào mùa gió chướng, nước từ phía đầu cù lao Bàng
chảy qua cuồn cuộn và gió mạnh đánh nước vào bờ sông làm vùng đất
nầy ngày càng lở thêm do sóng lớn. Nhất là vào những tháng gần Tết
Ta (Tết Nguyên Đán), các ghe buôn chở hàng qua đoạn sông nầy đều
phải rất cẩn thận, nếu sơ ý có thể bị sóng đánh chìm. Vào năm 1903,
chiếc Pluvier, tàu hàng của Pháp bị chìm ngang Vàm Láng Thé, gây
thiệt hại nhân mạng khá nhiều.
Hiện tại, họ
Bãi-Xan
bao gồm một số họ nhánh: họ Đức Mỹ, họ Cá Hô và họ Nhị Long. Tổng
cộng khoảng 7.000 bổn đạo, do 3 linh mục điều hành. (Đức Cha Tôma
Nguyễn Văn Tân, giáo phận Vĩnh Long, cũng là người
Bãi-Xan).
Ông Cả Mậu:
Theo tài liệu tìm được
trong tập hồ sơ viết tay của Cha Antôn Án (còn lưu trử tại nhà thờ
Bãi-Xan) thì người đầu tiên có công gầy dựng đất
Bãi-Xan là Ông Cả
Mậu (5), vào đầu thời vua Gia Long
(1802-1819). Ông là người gốc Khánh Hoà. Gia đình ông theo
đạo Công Giáo lại giàu có nên hay bị những người ngoài đạo oán thù
vì lúc bây giờ là thời cấm đạo.
Có một ông cai tổng tên
là Gồng, vì oán ghét Ông Mậu nên định bắt hết cha con Ông đem nộp
cho quan. Nghe tin, Ông vội vàng giữa đêm khuya mang ít đồ đạt xuống
chiếc ghe bầu cùng vợ con đi trốn. Trên ghe có tất cả 26 người, gồm
2 vợ chồng ông, 4 con trai, 4 con dâu, 1 con gái, 1 con rể, cùng 14
đứa cháu. Trên đường lánh nạn về miền Nam, Ông chỉ nguyện xin được
gặp một khu rừng nào đó để Ông cùng gia đình có thể định cư yên ổn
làm ăn.
Lúc đậu ghe gần Vàm
Nước Trong, có một chiếc ghe nhỏ, vì sóng to nên xin đậu lại gần ghe
Ông Mậu để tránh sóng, trên ghe có một bà già và đôi vợ chồng trẻ.
Nghe bà già than thở: “Hồi qua sông, nhờ ơn Chúa không thì ghe chìm
rồi”. Biết gặp người đồng đạo, Ông Cả Mậu liền làm quen rồi mời qua
ghe uống nước trà. Trong lúc bàn chuyện, Ông hỏi thăm có chổ nào
tương đối yên ổn để gia đình Ông có thể khai phá làm ăn. Ông cũng
cho bà biết tất cã những người trên ghe đều là con cháu Ông và cũng
là người Công Giáo. Đáp lại tấm thịnh tình của Ông Cả, bà già khuyến
khích Ông nên đến đầu môt con rạch nhỏ kêu là rạch Giồng Tượng mà
khai phá. Tại đây có voi, cọp ở nhiều lắm nhưng được yên. Riêng gia
đình bà đang ở làng Đức Mỹ cùng với ba gia đình Công Giáo khác. Bà
cũng cho biết thêm là bà cùng những gia đình kia luôn bị những người
bên lương (ngoại đạo) hiếp bức, hăm he đủ điều.
Hôm sau, Ông Cả theo
ghe của bà già đến thả neo trên sông Cái ngang rạch Giồng Tượng. Ông cùng các con
trai, con rễ mượn ghe nhỏ của bà già, mang theo giáo mát để phòng
khi gặp thú dử và cũng có mang theo hoả hổ để chống voi, cọp vì
chúng rất sợ thứ nầy. Sau khi quan sát địa thế, Ông thấy được nên
bắt đầu ruồng rạch giồng để mang ghe bầu vô đậu giữa rạch vì không
dám đậu gần bờ.
Từ đó, Ông bắt đầu khai
phá khu rừng cạnh mé sông vài ba dậm đất. Ông đốn cây, đào mương,
làm nhà và khai khẩn ruộng vườn.
Để đối phó với cọp, Ông
dùng dao mát liết vô miểng ghè, cọp nghe tiếng, hoảng sợ tránh xa.
Ông cho ruồng cây cối mà không cho đốt. Thỉnh thoảng Ông cũng thấy
một ít voi lảng vảng gần khu gia đình Ông đang khai phá, ông liền
bảo con cái ngưng việc đốn cây, vô nhà và cho lịnh đốt đuốc sậy châm
vô đám cây đã đốn. Cây khô nhằm mùa nắng ráo cháy rất nhanh. Bầy voi
trở nên vớn vát sợ hãi và bỏ chạy hết. Từ đó về sau, voi không dám
bén mảng tới gần khu ông khai khẩn nữa.
Ông trồng thứ gì cũng
tốt. Lại thêm đủ thứ các thú rừng như kỳ đà, chồn, cheo, heo rừng,
nai, khỉ, hưu, còn cá, chim thì nhiều vô kể. Ông ruồng rẩy, cấy lúa
cũng trúng mùa nên gia đình Ông càng ngày càng thêm sung túc.
Qua năm sau, bà già lúc
trước đã dẩn Ông về đây lại cùng với những gia đình Công Giáo ở Đức
Mỹ dọn về lập nghiệp tại Bãi-Xan, nâng tổng số lên được 7 gia đình.
Ít năm sau, vợ chồng Ông Cả Mậu cùng một con trai chết. Còn lại 3
người con trai và 1 người con gái. Gia đình Ông Cả Mậu được coi là
cư dân đầu tiên trên đất Bãi-Xan.
Ông Bốn:
Vào khoảng năm 1780,
lúc quân Tây Sơn nổi lên gây loạn lạc thì có một số bổn đạo từ miền
Trung thuộc đất Bình Định và Bình Thuận vì muốn lánh nạn bắt đạo nên
trốn vào sinh sống ở miền Nam. Nhất là ở miệt Cái Bông (Gành Mù-U).
Trong số nầy có Ông Bốn và gia đình, sau khi tạm cư ở Cái Bông ít
lâu, thì dọn tới ở tại Bãi-Xan. Ông ở đây một thời gian rồi vì có sự
xích mích với người chị nên Ông và gia đình mới dọn về Sóc Rùm, nay
gọi là Giồng Rùm, lập nghiệp. Ông Bốn và gia đình đã khai khẩn nên
cánh đồng dưới (Ấp Hạ) của
Bãi-Xan bây giờ vì vậy nên vùng ruộng nầy
khi xưa còn được gọi là Đồng Ông Bốn.
Ông Đẩu:
Một thời gian sau,
có một số người bà con của Ông Bốn đang ở Cái Bông cũng bắt đầu kéo
vào ở đất Bãi-Xan. Trong số những người đó có Ông Đẩu và Ông Ký.
Riêng ông Đẩu có mang theo người cha là
Ông Nguyễn Thanh Siêu.
Ông Siêu rất được nhiều người mến chuộng vì
ông làm nghề lương y đã từng giúp việc cho quan Thượng Bộ tại Ba
Giồng lại tinh thông chữ Hán nên những người con của ông ai cũng là
người hay chữ hết. Ông Đẩu biết việc lập họ lại là người có thế lực
vì là anh vợ của quan huyện Vũng Liêm nên ông mới hợp với những
người trong gia đình Ông cả Mậu để hoàn tất việc lập nên họ đạo
Bãi-Xan.
Vậy, Ông cả Mậu là
người khai sáng đất Bãi-Xan, nhưng Ông Đẩu mặc dù đến sau nhưng là
người có công rất nhiều trong việc lập nên họ đạo. Riêng Ông Siêu,
khi về già, Ông theo con gái về ở làng Nước Trong (trên đường qua
Thom đi Mỏ Cày Bến Tre), và chết chôn tại đây. Sau được Cha Nghi cải
táng, lấy cốt đem về Bãi-Xan chôn rồi xây nên "mã vôi"(8)
đến nay vẫn còn.

Mã
Vôi (photo 11-2003)
- Ông Đẩu có 5
người con: Ông Lượng, Bà Đài, Ông Tường, bà Mỹ, Bà Nữ.
- Ông Lượng có con là Bà Sử, Bà Lài.
Bà Sử có con là ông Trùm Thân.
- Ông Trùm Thân có con là linh Mục Nguyễn Ca Các, linh mục
đầu tiên của họ Bãi-Xan.
Bà Đài sống độc thân.
Đến khi bà qua đời, các anh em mới dâng phần đất của bà cho nhà thờ
để xây nên thánh đường và đất thánh bây giờ.
Sau đây là giấy dâng
đất của Bà Đài tìm được trong hồ sơ lưu trử trong văn phòng họ đạo:
Tờ đầu
ghi rằng:
"Chúng
tôi ký tên sau đây bằng lòng dâng cúng cho Thánh Ðường một miếng
đất 72 tầm và một miếng nữa 40 tầm, là phần gia tài của thị Ðài
là gái ở vậy (độc thân) và chết không có cháu con, miễn xin cầu
nguyện cho 10 linh hồn thì đủ".
Ký tên:
Trùm Tường, Danh, Luận, thị Mỹ, thị Nhi.
Chứng Làng:
Xã đương niên: Huyên
Xã cựu: Tự
Tờ thứ hai ghi rằng:
"Chúng
tôi đồng ký tên dưng cho Thánh Ðường: một miếng Giồng 50 tầm (chổ
nhà thờ bây giờ) và một miếng Giồng nữa 4 công (chổ đất thánh
bây giờ) cũng của thị Ðài nói tên trong tờ trước. Xin cha coi
sóc họ mỗi năm làm hai lễ Misa trong 10 năm thì đủ số".
Ký tên:
Trùm Tường, Danh, Luận, thị Mỹ, thị Nhi.
Chứng Làng:
Xã đương niên: Huyên
Xã cựu: Tự
(Ðề ngày mồng 7 tháng 2
Annam, năm 1832 Minh Mạng Thập tam niên)
Tờ thứ ba ghi rằng:
"Chúng
tôi đồng ký tên dưng cho Thánh Ðường 10 mẫu đất ruộng của
Kim-Loan là Bà chúng tôi đã chết, đặng lấy huê lợi làm việc
phước đức".
Ký tên:
Toán, Thi, Niên, Hiệp, Danh, Cơ
Chứng Làng:
Xã đương niên: Huyên
Xã cựu: Tự
(Ðề ngày 13 tháng 10
Annam, năm 1832 Minh Mạng Thập tam niên)
Ông Bường:
Ông Lại Đồng Bường là
người Cái Bông đến Bãi-Xan sau ông Đẩu. Gia đình ông Bường có tất cả
8 anh em: Bường, Tự, Mây, Oai, Nhu, Minh, Mẫn, Năng. Ông Đẩu phân
chia cho chi nầy ở phần đất cận mé sông Cái, gần rạch Giồng Tượng.
Khu đất nầy không được yên ổn cho lắm vì gần rạch, hay bị cướp phá.
Tuy nhiên, các anh em Ông Bường, nhờ đông người, họ cũng bắt đầu
khai khẩn ruộng đất làm ăn được.
Ông Lê Ngọc Lành:
Phần rẩy phía trên đất
Bãi-Xan có gia đình Ông Lê Ngọc Lành, là cựu quan ở Huế, bị giặc Tây
Sơn quấy phá nên vô tránh nạn ở đất Cù Lao Tây. Ít lâu sau khi vua
Gia Long thắng trận thì Ông cùng gia đình dọn về ở đất
Bãi-Xan mà
lập nghiệp. Gia đình ông Lê Ngọc Lành gồm có: ông Lịch, bà Lảm, ông
Tây, ông Xang, ông Tấn, ông Xê, ông Đặng. Dòng họ Lê phải được xem
là dòng họ đông nhất ở đất
Bãi-Xan.
Ông Trần Văn Khả:
Người
Bãi-Xan cũng
thường hay nghe nói câu: “Giồng Nhánh là gánh Họ Trần”. Đúng vậy, họ
Trần phải được coi là một họ lớn, bắt nguồn từ gia đình Ông Khả, đến
từ Cái Bông. Gia đình nầy cũng từ miền Trung vô định cư ở Cái Bông
trong thời bắt đạo. Sau vì trốn ngụy Khôi nên chạy về Cầu Ngang lánh
nạn.
(Lê văn Khôi là con nuôi của Tả Quân Lê Văn Duyệt. Lê Văn Duyệt
là người đã xé sớ bắt đạo của vua Minh Mạng. Sau khi chết, bị vua
Minh Mạng trả thù bằng cách đánh lên mã 100 roi, cho voi đạp lên mã
rồi truyền lấy lòi tói xiềng chung quanh mã lại. Lê văn Khôi uất ức
vì thấy cha nuôi mình bị hạ nhục như vậy nên khởi quân chống lại
Minh Mạng, nên đưọc gọi là Ngụy Khôi. Dùng lá cờ màu đen nên cũng
được gọi là Quân Cờ Đen. Lê Văn Khôi có liên hệ khá mật thiết với Cố
Du (RP Marchand) nên khi cha Du bị bắt năm 1835, thì bi xử lăng trì
vì bị nghi là có giúp Ngụy Khôi nổi lên chống triều đình.)
Khi ông Khả ở Cầu Ngang
thì Giặc Đàng Tân (những người chống Lê Văn Khôi, đưọc Pháp giúp) đi
tàu từ Mỹ Tho xuống Trà Vinh lùng bắt Giặc Đàng Cựu (những người
theo Khôi). Ông Khả là người ủng hộ giặc Đàng Cựu nên khi Ngụy Khôi
thua thì Ông Khả và 4 người con là: Trần Văn Trạch, Trần văn Tám,
Trần thị Mười và Trần thị Mọi, thấy ở Cầu Ngang không yên nên chạy
trốn ngược lên Giồng Tượng và chiếm đất Giồng Nhánh, lúc nầy còn
hoang vu, mà khai khẩn làm ăn. Ông khai khẩn vùng Giồng Nhánh, đất
Giây và Giồng Hổi.
Rạch Giồng Tượng (6)
Con rạch đã có tự lâu
đời nhưng chỉ là một con rạch nhỏ do những đàn voi từ trong rừng bần
theo một con đường mòn ra sông để tắm và uống nước lâu ngày mà thành.
Con rạch nầy ban đầu dài chỉ khoảng 1 cây số rưởi, sau vì muốn đưa
nước vô tận khu dân cư trong các giồng và cũng để ghe thuyền có thể
vô tới khu nhà thờ nên Cha Điền, là linh mục đang coi sóc họ
Bãi-Xan
lúc bấy giờ (1830), cho bổn đạo đào thêm 400 thước nữa biến con rạch
Giòng Tượng thành một con kinh chạy từ bờ sông Cái (sông Cổ Chiên)
đến trước cửa nhà thờ bây giờ. Xin nhắc lại, cái đặc biệt của con
kinh nầy là: Nước ròng thì chảy lên và nước lớn thì chảy xuống. Vì
tên rạch là Giòng Tượng nên đôi khi Bãi-Xan cũng được gọi là xứ
Giồng Tượng.
Làng Đại Phước:
Thuở ban đầu, về hành
chánh thì đất Bãi-Xan là thuộc làng Đức Mỹ, chạy dọc theo sông Cái (sông
Cổ Chiên) từ Vàm Láng Thé dến Vàm Vũng Liêm.
1800 – Làng Bình Hoà.
Đến năm 1800, làng Đức Mỹ mới phân đôi, phía bắc là Đức Mỹ, phía nam
là làng Bình Hoà. Nhưng vì việc lặp làng mới nầy không vững vàng lắm
nên chẳng bao lâu sau thì mất hiệu làng, trở lại 1 làng Đức Mỹ như
trước.
1815 – Làng Phước
Toàn. Khi Ông Đẩu lặp nên họ Bãi-Xan xong (1815) thì được phép
phân làng Đức Mỹ ra làm 2 một lần nữa gồm Đức Mỹ và Phước Toàn.
1840 – Làng Phước
Hãi. Đến năm 1840, đầu đời vua Thiệu Trị, thì tên làng được đổi
là Phước Hãi vì kỵ húy (trùng tên với hoàng tộc). Lúc đó, nhà vua
sinh dược 3 ông hoàng trong cùng 1 ngày đó là: Hoàng Toàn, Hoàng
Phúc và Hoàng Nguyên. Làng Phước Hãi được vua ban sắc thần và lập
đình để thờ thần làng. Nhưng tất cả dân trong xứ đều là công giáo
nên đình làng bị bỏ phế, chẳng bao lâu sau thì cái đình hư mất. Còn
sắc thần đưọc cất giử tại nhà câu Tứ, chẳng may bi hoả hoạn cháy rụi.
1849 – Làng Phước
Thới. Đến năm 1849, làng được đổi tên là Phước Thới, gồm Phuớc
Hãi và Long Thới nhập lại.
1918 – Làng Phước
Hãi (Village de Phuoc Hai, Canton de Binh Phuoc)
1922 – Làng Phước
Thới (Village de Phuoc Thoi, Canton de Binh Phuoc, Province de
Tra Vinh)
1931 – Làng Đại
Phước, Tổng Bình Phước
1944 – Làng Đại
Phước, Tổng Bình Khánh
1950 – Làng Đại
Phước, ấp Phước Hãi, Tổng Bình Phước, Hạt Trà Vinh
1954 – Xã Đại
Phước, Quận Càng Long, Tỉnh Vĩnh
Bình (VNCH - Việt Nam Cộng Hoà). Năm 1958, xã trưởng là ông Lưu Văn
Nhạn. Trụ sở xã đặt tại nhà ông 2 Nhạn, cạnh khu chợ
Bãi-Xan thời
xưa, đối diện nhà sàn Bà Hãng.
1975 – Xã Đại Phước,
Huyện Càng Long, Tỉnh Trà Vinh (CHXHVN - Cộng Hoà Xã Hội Việt Nam).
Trụ sở xã đặt tại Ba Trường.
3- Kết
Theo tài liệu đã nêu ra
ở trên thì người dân Bãi-Xan có nguồn gốc từ miền Trung (Bình Định,
Bình Thuận, Quảng Nam, Quảng Ngải) vì tránh loạn lạc thời Tây Sơn và cơn bắt đạo thời vua
Gia Long, Minh Mạng mà vào ẩn trốn ở miền Nam và lập thành xứ
Bãi-Xan. Người đầu tiên khai sáng nên đất
Bãi-Xan (1750) [1780?]
(5) là Ông Mậu và người đã chính thức
lập nên họ đạo Bãi-Xan (1815) là ông Đẩu.
Những dòng họ đáng kể ở
Bãi-Xan gồm có:
- Họ Lê: Giòng
họ của Ông Lê Ngọc Lành. Ấp Thượng.
- Họ Trần: Giòng
họ của Ông Trần Văn Khả. Giồng Nhánh
- Họ Nguyễn:
Giòng họ của Ông Cả Đẩu. Ấp Hạ.
- Họ Ngô: (Ấp
Trung) là giòng họ của Ông Ngô Công Điện có nguồn gốc từ Quảng
Nam. Con cháu có những người giàu có như: Ông Ngô
Công Triệu (Chủ Triệu), Ông Ngô Công Thiều (Chủ Thiều), Bà Ngô Thị
Tranh (Bà Thung Thuần), Ông Ngô Công Đức (Dân Biểu Quốc Hội
VNCH).
Trong hơn 30 năm cấm
đạo, nhờ sự hướng dẩn của các cha như cha Điền, cha Lân, cha Nhơn,
... và những vị thân hào như ông cả Đẩu, ông Mậu, ... và vì dân
trong làng đều là người theo đạo Công Giáo nên Họ
Bãi-Xan vẫn luôn
vững bền và phát triển. Vào năm 1800 thì bổn đạo họ
Bãi-Xan có gần
800 người (7) và hiện tại gần 7.000 bổn đạo
bao gồm họ chánh là Bãi-Xan và 3 họ nhánh là Đức Mỹ, Cái Hô và Nhị
Long.
Chicago,
USA
Tháng Giêng, Năm Ất Dậu 2005
- Ngô Thanh Đế -
Tài Liệu:
(1) - Giồng và
Cái, tác giả: Nam San.
(2) - Lời cắt nghĩa của Cha Bellocq, Cha sở
Bãi-Xan thời
đó.
(3) - Vùng Dậy, số 2, phát hành năm 1972.
(4) - Nam Kỳ Địa Phận Chí.
- Hồ Sơ lưu trử trong văn phòng giáo
xứ Bãi-Xan
- Vùng Dậy, số 1, phát hành năm 1971.
(5) - Hồ sơ viết tay ghi năm 1750 có lẽ không đúng vì theo Học giả
Huỳnh V. Lang, lúc bấy giờ vùng đất nầy vẫn còn thuộc nước Chân Lạp.
Sau khi Quốc vương Chân Lạp là Nặc Nguyên mất (1759), Nặc Tôn nhờ sự
giúp đở cũa Chúa Nguyễn, lên được ngôi vua mới dâng vùng đất
Tầm-phong-long (Châu Đốc, Long Xuyên, Sa-Đéc, Vĩnh Long và Trà Vinh)
cho Chúa Nguyễn để trả ơn. (ghi chú:
có thể vì là hồ sơ viết tay, lâu ngày chử viết trở nên lu mờ gây ngộ
nhận)
(6) - Vùng Dậy, số 2, phát hành năm 1972.
(7) - L'Annam Et Le Cambodge, par C. E. Bouilleaux, 1874, Victor
Palmé. France.
(8) - Mã Vôi: thay vì dùng xi-măng, thợ đã dùng "ô-dước" trộn với
cát đá mà xây lên nên rất cứng và bền. Nếu đi từ nhà thờ ra Vàm
Giồng, khoảng nửa đường, phía tay trái là mã vôi.
(9) - Bổ túc ngày 17 tháng 7 năm 2009
